Tranh chấp hợp đồng cộng tác viên

Tranh chấp hợp đồng cộng tác viên

63

Tranh chấp hợp đồng cộng tác viên

Tình huống thực tế:

Anh Q ký hợp đồng làm cộng tác viên cho công ty TNHH C với thời hạn từ ngày 15/9/2017 đến ngày 14/9/2018 với mức lương là 11.270.000 đồng/tháng. Tuy nhiên đến ngày 24/10/2017, anh Q và công ty C đã ký biên bản thanh lý hợp đồng cộng tác viên nêu trên. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hai bên ký biên bản, công ty C phải có trách nhiệm thanh toán số tiền là 15.420.000 đồng cho anh Q. Tuy nhiên, sau nhiều lần liên hệ với công ty C nhưng anh Q vẫn chưa được thanh toán số tiền nêu trên. Ngày 8/3/2018, anh Q khởi kiện ra tòa án yêu cầu công ty C phải trả cho anh số tiền là 15.420.000 đồng và không yêu cầu trả lãi cho đến thời điểm khởi kiện.

Về phía công ty C, công ty C được tòa án triệu tập đến lần thứ 2 nhưng không có mặt tại phiên tòa xét xử.

Phán quyết của tòa án:

Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Q và yêu cầu công ty C thanh toán cho anh Q số tiền 15.420.000 đồng và lãi chậm trả nếu như công ty C vẫn không thanh toán hoặc thanh toán chậm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Bình luận:

[the_ad_group id="251"]

Điểm mấu chốt ở tình huống trên là hợp đồng giữa anh Q và công ty C là hợp đồng gì. Theo như nội dung trong bản án gọi hợp đồng đó là hợp đồng cộng tác viên nhưng khi đi sâu phân tích cụ thể thì hợp đồng này lại là hợp đồng lao động. Vậy bạn hiểu như thế nào là hợp đồng cộng tác viên, như thế nào là hợp đồng lao động? Để hiểu rõ vấn đề về hợp đồng cộng tác viên hơn, bạn có thể tham khảo bài viết “Điều kiện ký kết hợp đồng cộng tác viên giữa cá nhân và doanh nghiệp” trên web https://tuvanluat.vn/. Còn hợp đồng lao động là văn bản thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ liên quan đến công việc mà NLĐ làm việc cho NSDLĐ.  Ta có thể so sánh giữa 2 hợp đồng trên như sau:

  HĐLĐ Hợp đồng cộng tác viên
Bản chất Là sự thoả thuận của NSDLĐ và NLĐ  về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Là hợp đồng cung ứng dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi.
Thời hạn Có 3 loại HĐLĐ

–          Không xác định thời hạn

–          Xác định thời hạn từ 12-36 tháng

–          Mùa vụ hoặc dưới 12 tháng

 Tùy vào thỏa thuận giữa hai bên
Lương Trả lương định kỳ Trả theo giá trị hợp đồng khi hoàn thành xong công việc
Chế độ Người làm việc theo HĐLĐ có thời hạn từ đủ 03 tháng trở lên bắt buộc phải tham gia BHXH, BHYT, BHTN Không phải tham gia BHXH, BHYT, BHTN
Chấm dứt hợp đồng NLĐ hoặc NSDLĐ phải báo trước 1 khoảng thời gian tùy theo loại HĐLĐ đã ký kết Hai bên thực hiện thỏa thuận chấm dứt, thanh lý hợp đồng

 

Theo cách hiểu thông thường, ta có thể hiều sơ bộ rằng hợp đồng lao động mang tính chất thường xuyên, liên tục, còn đối với hợp đồng cộng tác viên thì kiểu như công việc nhiều thì công ty mới tuyển cộng tác viên làm phụ thêm công việc cho nhanh, cho kịp tiến độ… mang tính chất mùa vụ, không thường xuyên. Việc trả thu nhập cho NLĐ trong hợp đồng lao động mang tính chất định kỳ, còn với hợp đồng cộng tác viên thì hầu hết được trả theo tính chất công việc giống như một hợp đồng dịch vụ. Để xác định hợp đồng đã ký kết thuộc loại hợp đồng nào cũng phải dựa trên các đặc điểm, các quy định trong đó chứ không thể dựa trên cái tên gọi của hợp đồng mà xác định. Khi có tranh chấp xảy ra, dựa trên hợp đồng đã ký kết mà sẽ áp dụng Luật điều chỉnh khác nhau ví dụ như nếu là hợp đồng cộng tác viên thì sẽ do Luật Thương mại, Bộ luật dân sự điều chỉnh còn nếu là hợp đồng lao động thì sẽ do Bộ luật Lao động điều chỉnh. Sự khác biệt trên sẽ dẫn đến những kết quả khác nhau.  Do đó, để tránh hiểu nhầm thì NLĐ và NSDLĐ cần phải xác định cho thật kỹ hợp đồng mình sắp ký kết có nội dung phù hợp hay không? Đã đúng theo quy định pháp luật hay chưa để thực hiện cho đúng.

Quay trở lại với tình huống của anh Q. Theo nhận định của Tòa án khi xem xét chứng cứ là hợp đồng cộng tác số 03/HĐCT-2017 ngày 15/9/2017 thì xác định hợp đồng này là hợp đồng lao động bởi vì:

  1. Có quy định thời hạn của hợp đồng là 12 tháng
  2. Có quy định mức lương trả hàng tháng là 11.270.000 đồng/tháng
  3. Công việc có tính chất thường xuyên, có điều kiện làm việc như là một hợp đồng lao động bình thường.

Như vậy, lúc này hợp đồng cộng tác viên thực chất là hợp đồng lao động. Do đó, quyền lợi của anh Q trong trường hợp này do Bộ luật Lao động điều chỉnh chứ không phải do Luật Thương mại hay Bộ luật Dân sự điều chỉnh.

Ông Q và công ty C đã tự nguyện chấm dứt HĐLĐ trước thời hạn. Cho nên công ty C có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản liên quan đến quyền lợi cho ông Q[1]. Cụ thể ở đây, ông Q yêu cầu công ty thanh toán cho ông tiền lương 40 ngày làm việc kể từ ngày hai bên ký hợp đồng và không yêu cầu thanh toán lãi chậm trả. Yêu cầu này của ông Q là hoàn toàn phù hợp với quy định pháp luật. Do đó, công ty C có trách nhiệm phải thanh toán cho ông Q khoản tiền này sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Trên thực tế, nhiều khi NSDLĐ lợi dụng vào điều này để không phải đóng BHXH, BHYT, BHTN cho NLĐ khi ký kết hợp đồng cộng tác viên. Lúc này NLĐ là bên chịu thiệt khi cũng đi làm nhưng lại không được đảm bảo quyền lợi.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi về  tranh chấp hợp đồng cộng tác viên

Luật Nghiệp Thành cảm ơn các bạn đã xem và mong nhận được phản hồi, góp ý bổ sung.

 

Biên tập: Trần Thị Duyên

Luật sư hướng dẫn: Luật sư Thuận

 

[1] Điều 47.2 BLLĐ 2012

 

 

 

 

[the_ad_group id="252"]
Danh mục: Lao động
Tags: tag

Tác giả

Viết bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ không bị người khác biết.
Những ô bắt buộc được đánh dấu*